Sign In
Welcome to Yen Bai Portal
  • Đường dây nóng: 0983.953.090
  • English
  • Nhiều trăn trở với nghề công tác xã hội

    CTTĐT- Công tác xã hội là một nghề “đặc biệt”, sứ mạng của những người làm CTXH là xóa bỏ rào cản bất công, mang lại hạnh phúc, góp phần xây dựng xã hội văn minh và phát triển bền vững. Tuy nhiên trong những năm gần đây nghề công tác xã hội chưa thực sự có chỗ đứng trong xã hội.

  • Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh

    CTTĐT - Công tác xã hội trong bệnh viện có nhiệm vụ hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.

  • Yên Bái phát triển nghề công tác xã hội

    CTTĐT - Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32 về phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020. Đây là văn bản đầu tiên của Chính phủ đề cập đến hoạt động công tác xã hội được trở thành một nghề, với mục tiêu chung là nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng và đẩy mạnh phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp.

  • Nghề công tác xã hội trong trợ giúp người khuyết tật

    CTTĐT – Công tác xã hội (CTXH) là hoạt động phát hiện, giúp đỡ những cá nhân, nhóm người gặp khó khăn... nhằm giúp họ vượt qua những rào cản của cuộc sống, giảm thiểu sự bất bình đẳng trong xã hội và giúp họ phát triển, hoà nhập với cộng đồng một cách tích cực nhất.

  • Quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công tác xã hội

    CTTĐT - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 30 quy định về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương đối với viên chức chuyên ngành công tác xã hội. Thông tư liên tịch này áp dụng đối với viên chức chuyên ngành công tác xã hội làm việc trong các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực an sinh xã hội.

  • Cả nước có hơn 500 cơ sở xã hội công lập và ngoài công lập

    CTTĐT - Hiện nay, cả nước có hơn 500 cơ sở xã hội công lập và ngoài công lập, trong đó có 40 trung tâm công tác xã hội chuyên sâu; các tỉnh, thành phố đã hình thành, phát triển mạng lưới khoảng 300.000 người làm công tác xã hội ở các hội, đoàn thể các cấp và cộng tác viên công tác xã hội, góp phần trợ giúp cho người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận, thụ hưởng các chính sách phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, học nghề, tìm việc làm để ổn định cuộc sống.

  • Tiếp tục nâng cao hiểu biết của cộng đồng về nghề Công tác xã hội

    CTTĐT - Ở Việt Nam nghề công tác xã hội (CTXH) là một lĩnh vực hoạt động mới xuất hiện. Từ năm 2010, bằng Đề án 32 của Chính phủ thì CTXH cũng mới chính thức được công nhận là một nghề cụ thể. Tuy vậy, hiểu biết và nhận thức của xã hội về nghề này vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức. Do vậy cần phải tiếp tục nâng cao hiểu biết của cộng đồng xã hội về ngành nghề này.

trả lời Anh Lê Tiến Minh

Câu hỏi:

Nghề Công tác xã hội tuân thủ theo những nguyên tắc thực hành nghề nghiệp nào?

Trả lời:

Thứ nhất là nguyên tắc chấp nhận đối tượngbất kể đối tượng là ai, đến từ những hoàn cảnh nào. Việc chấp nhận đối tượng là việc chấp nhận những quan điểm, hành vi và giá trị của đối tượng để đối tượng hiểu nhân viên CTXH hiểu và không phán xét đối tượng. Việc này không đồng nhất với việc đồng tình với những quan điểm, hành vi và giá trị sai lệch với xã hội.
Thứ hai là nguyên tắc để đối tượng chủ độngtham gia giải quyết vấn đề. Đây là nguyên tắc đảm bảo đối tượng tham gia giải quyết vấn đề  của họ từ giai đoạn đầu cho đến giai đoạn kết thúc. Vì hơn ai hết đối tượng là người có vấn đề và hiểu về hoàn cảnh cũng như mong muốn của mình, nên vấn đề chỉ được giải quyết hiệu quả khi đối tượng là người tham gia.
Thứ ba là nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng. Nguyên tắc này được hiểu là đối tượng chính là người quyết định giải quyết vấn đề của họ như thế nào. Nhân viên công tác xã hội chỉ đóng vai trò là người xúc tác, cung cấp thông tin và giúp đối tượng tự đưa ra quyết định đúng đắn và phù hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp khi quyết định của đối tượng có ảnh hưởng đến sự an nguy của họ, gia đình và những người xung quanh, nhân viên công tác xã hội cần can thiệp.
Thứ tư là nguyên tắc đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp. Do mỗi đối tượng (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) đều có những đặc điểm riêng biệt về bản thân, hoàn cảnh gia đình và môi trường sống, khi giúp đối tượng giải quyết vấn đề nhân viên công tác xã hội cần tôn trọng tính cá biệt của từng trường hợp mà đưa ra phương pháp tiếp cận và hỗ trợ giải quyết vấn đề hiệu quả. Ngay cả khi cùng là một vấn đề, nhưng với mỗi đối tượng lại cần có cách thức can thiệp phù hợp.
Thứ năm là nguyên tắc đảm bảo tính riêng tư, bí mậtcác thông tin liên quan đến đối tượng. Nhân viên công tác xã hội trong quá trình làm việc luôn tuân thủ quy định bảo mật thông tin riêng tư của đối tượng. Nhân viên công tác xã hội cần thông báo và nhận được sự đồng ý của đối tượng trước khi chia sẻ thông tin của họ với những nhà chuyên môn khác.
Thứ sáu là nguyên tắc tự ý thức về bản thâncủa nhân viên công tác xã hội. Nguyên tắc này thể hiện ở ý thức trách nhiệm đảm bảo chất lượng dịch vụ, không lạm dụng quyện lực, vị trí công tác để mưu lợi cá nhân. Bên cạnh đó nhân viên công tác xã hội cần luôn cầu thị, học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Thứ bảy là nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp.Mối quan hệ giữa nhân viên công tác xã hội với nhân viên công tác xã hội cũng như giữa nhân viên công tác xã hội và đối tượng cần đảm bảo tính bình đẳng, tôn trọng, khách quan và nguyên tắc nghề nghiệp.

Xem tiếp